Tìm kiếm

Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Lược Sử Kinh Tế Học (2017) là một cuộc hành trình khám phá những câu hỏi quan trọng được đặt ra bởi các nhà kinh tế học qua nhiều thế kỷ, từ Aristotle cho đến Thomas Piketty. Thông qua cuốn sách, tác giả đã xem xét kỹ lưỡng những câu hỏi về bất bình đẳng, sự ích kỷ và vai trò của chính phủ trong các nền kinh tế. 

Giới thiệu tác giả sách Lược Sử Kinh Tế Học

Tác giả Niall Kishtainy
Tác giả Niall Kishtainy

Niall Kishtainy là một tác giả viết sách, nhà kinh tế học và nhà sử học. Ông là giáo sư tại Trường Kinh tế London và Đại học Warwick. Kishtainy tin rằng việc nghiên cứu về lịch sử kinh tế học có thể giải thích rất nhiều điều về thời hiện đại và thông qua đó, giúp chúng ta tiến bộ hơn. 

Tải sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF

Để tải sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF hoặc đọc Ebook online free bạn ấn nút phía trên. Nếu có điều kiện hãy mua sách để ủng độ tác giả.

Nội dung chính cuốn sách Lược Sử Kinh Tế Học

1. Quyển sách này có gì dành cho bạn? Một du ngoạn hấp dẫn về lịch sử kinh tế học toàn cầu

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Có thể bạn nghĩ mình biết kinh tế học là gì. Đầu vào – đầu ra, cung và cầu, vân vân và vân vân. Theo một cách nào đó, bạn đã đúng. Từ kinh tế học (economics) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại – oikos nghĩa là nhà, và nomos là luật. Đối với người Hy Lạp, kinh tế học là quản lý các hộ gia đình. 

Nhưng kinh tế học cũng tìm cách giải thích sự khác biệt giữa các xã hội. Tại sao nước Anh có những tòa nhà, những giáo viên và những cuốn sách hiện đại, tiên tiến nhất để giáo dục thanh thiếu niên của họ, còn Burkina Faso (một quốc gia nằm ở Tây Phi) thì không? Không ai biết câu trả lời đầy đủ. Nhưng các nhà kinh tế học vẫn sẽ luôn là những người đặt ra các câu hỏi. 

Trong cuốn sách này, chúng ta sẽ tìm hiểu về lịch sử kinh tế học, nghiên cứu từ thời những người Hy Lạp cổ đại cho đến các chủ ngân hàng thiếu đạo đức đã gây ra sự sụp đổ tài chính toàn cầu năm 2007. Bằng cách xem xét cách các nhà kinh tế học trước đây giải thích thời đại của chính họ, chúng ta có thể thấy câu trả lời cho chính thời đại của mình rõ ràng hơn. 

Bên cạnh đó, bạn cũng sẽ biết được: 

• Tại sao Giáo hội Công giáo lại đảo ngược quan điểm của mình đối với việc cho vay tiền; 

• Thành kiến mà hầu hết các nhà kinh tế học thường mắc phải. 

2. Câu hỏi đầu tiên đặt ra cho các nhà kinh tế học thời kỳ đầu là vai trò của tiền tệ và tầng lớp thương gia

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristotle có lẽ là nhà kinh tế học đầu tiên. Vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, Aristotle đã có những suy nghĩ sâu sắc về khái niệm tiền tệ. Tất nhiên, tiền có thể vô cùng hữu ích: nó đo lường giá trị của hàng hóa và cho phép mọi thứ dễ dàng chuyền từ người này sang người khác. 

Nhưng tiền cũng mở ra những cánh cửa nguy hiểm. Giả sử, nếu một nông dân trồng ô liu nhận ra rằng anh ta có thể kiếm tiền từ việc bán ô liu, anh ta có thể bắt đầu trồng chúng hoàn toàn chỉ vì lợi nhuận, thay vì chỉ trồng đủ để nuôi gia đình. Aristotle gọi đây là thương mại, và ông thấy nó trái với quy luật tự nhiên. Tệ hơn nữa là những người đã sử dụng tiền để kiếm nhiều tiền hơn – họ chính là những người cho vay – những người đã cho mọi người vay tiền để thu về một khoản lợi, thứ mà bây giờ chúng ta gọi là tiền lãi. Tuy nhiên, sự bất bình của Aristotle không có nhiều tác động đến sự phát triển của một nền kinh tế. Thương mại, một khi đã bắt đầu, nó sẽ bén rễ sâu trong xã hội. 

Giống như Aristotle, các nhà tư tưởng Cơ đốc giáo ban đầu không hề ủng hộ những người cho vay tiền. Vào thế kỷ thứ 13, Thánh Thomas Aquinas ghét cay ghét đắng việc cho vay tiền, ông gọi việc này là “cho vay cắt cổ” (usury). Ông tin rằng cách sử dụng tiền phù hợp duy nhất của Cơ đốc nhân là dùng để mua và bán. 

Nhưng hoạt động cho vay tiền lại trở nên rất tiện lợi cho các thương gia của Venice và Genoa, những người đang bắt đầu giao thương với các thành phố khác ở châu Âu và Địa Trung Hải. Nhằm giúp những thương gia lưu trữ tiền của họ và dễ dàng giải quyết các khoản nợ, các ngân hàng đầu tiên đã mọc lên ở đây. 

Những người nông dân bắt đầu từ bỏ nông trại, nơi họ làm việc dưới sự cai trị của các lãnh chúa phong kiến, để tự làm việc cho mình trong những thành phố để kiếm tiền. Ngay cả nhà thờ Công giáo cũng bắt đầu giảm nhẹ lập trường của mình về việc cho vay nặng lãi: vào thế kỷ thứ mười hai, giáo hoàng thậm chí còn phong thánh cho một thương gia người Ý có tên Homobonus. 

Vài thế kỷ sau, khi các con tàu châu Âu bắt đầu khám phá thế giới, đi đến những nền văn minh giàu tài nguyên bạc và vàng. Những nhà thám hiểm đồng thời cũng là các thương gia này đã cướp bóc những vùng đất này, đem lại khối tài sản khổng lồ cho những người cai trị châu Âu, những người ngày càng chi tiêu xa hoa cho lâu đài, trang phục lộng lẫy và những thứ khác. Vì vậy, liên minh giữa các thương gia và những nhà cai trị châu Âu được hình thành, chủ nghĩa trọng thương bắt đầu. 

Ở Anh, các nhà kinh tế học như Thomas Mun bắt đầu suy nghĩ cách để làm cho đất nước của họ trở nên giàu có hơn các đối thủ. Ông tin rằng những gì tốt cho thương nhân cũng tốt cho đất nước. Các quốc gia đã thành lập những công ty đặc biệt cho phép các nhà đầu tư góp tiền và chia sẻ lợi nhuận, chẳng hạn như Công ty Đông Ấn, một công ty có Mun là lãnh đạo cấp cao. 

Trong thời trung cổ, tôn giáo và các mối quan hệ cá nhân thống trị đời sống kinh tế. Chủ nghĩa trọng thương là một điềm báo của sự thay đổi, một bước ngoặt của thời đại công nghiệp, thời đại mà tiền sẽ được ưu tiên hơn. 

3. Khi Thời đại Công nghiệp bắt đầu, các nhà kinh tế học đã đưa ra những ý tưởng mới cấp tiến để giải thích thế giới

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

François Quesnay là người đứng đầu của một trường phái kinh tế học được hình thành ở Pháp trước cách mạng. Quesnay là một người theo chủ nghĩa quân chủ, nhưng quan niệm của ông lại cấp tiến: loại bỏ thuế cho nông dân Pháp và thay vào đó là đánh thuế quý tộc. Những người nông dân đã làm việc với thiên nhiên do Chúa ban tặng và sản phẩm của họ là cội nguồn cuối cùng cho sự giàu có của một quốc gia. Theo suy nghĩ của Quesnay, Pháp thật ngu ngốc khi làm xáo trộn thu nhập của họ. 

Tệ hơn nữa, Pháp đã ban cho các thương nhân những đặc quyền, cho phép họ tự thành lập các phường hội để bảo vệ mình khỏi sự cạnh tranh. Quesnay khuyên chính phủ Pháp loại bỏ các biện pháp kiểm soát đối với nông nghiệp và loại bỏ các đặc quyền của thương nhân. Những ý tưởng này là nền tảng của kinh tế học tự do, có nghĩa là chính phủ sẽ thực thi chính sách không can thiệp vào nền kinh tế. Và đây cũng là lời mở đầu cho một cuộc tranh luận vẫn tiếp tục diễn ra gay gắt cho đến ngày nay. 

Trong khi đó, tại Scotland, Adam Smith đã cho xuất bản tác phẩm Của cải của các quốc gia vào năm 1776, trong đó nêu ra một số khái niệm hoàn toàn mới. Smith tin rằng xã hội sẽ hoạt động tốt nhất khi mọi người đều hành động vì lợi ích của bản thân họ. Cộng đồng sẽ có khả năng tự xoay xở để vận hành tốt mà không cần bất kỳ thực thể nào can thiệp vào, cứ như thể nó được điều khiển bởi một bàn tay vô hình. 

Vào buổi bình minh của Thời đại Công nghiệp ở Anh, các nhà máy khổng lồ mọc lên khi sự giàu có của đất nước chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp. Những loại công việc tại các nhà máy này được chuyên môn hóa cao. Smith giải thích những công việc mới này bằng cách sử dụng khái niệm phân công lao động. Trong các xã hội phức tạp, có rất nhiều hàng hóa mà mọi người muốn trao đổi. Bởi vì một số người đương nhiên giỏi làm bánh mì hơn làm ghế, điều này dẫn đến việc mọi người bắt đầu chuyên môn hóa các công việc cụ thể. Sau đó, sự chuyên môn hóa còn đi xa hơn: chẳng hạn trong một cửa hàng làm ghế, một người phụ trách đóng đinh và một người khác sẽ phụ trách chà nhám gỗ. 

Khi sự chuyên môn hóa công việc lan rộng khắp nền kinh tế, nhiều loại hàng hóa hơn có thể được sản xuất với chi phí thấp hơn. Chi phí thấp hơn có nghĩa là giá thấp hơn, và vì vậy mọi người đều có lợi. Mặc dù vậy, một số người lại thu về lợi ích nhiều hơn những người khác. Có một sự thực rằng, những công việc chuyên môn hóa nhàm chán hơn rất nhiều so với những công việc không chuyên. Việc đóng đinh cả ngày trái ngược với việc đóng cả một chiếc ghế, việc đóng những phát búa sẽ trở nên chán ngắt. Trong khi đó, chủ cửa hàng lại ngày càng giàu lên từ việc sản lượng gia tăng. 

4. Tư tưởng kinh tế thế kỷ 19 tập trung cho các vấn đề chênh lệch giàu nghèo

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Các nhà máy mới của Anh đã tạo ra của cải và đặc quyền khổng lồ, nhưng chỉ dành cho các chủ đất và những nhà tư bản sở hữu các nhà máy. Một nhóm đa dạng các nhà kinh tế học trong thế kỷ 19 đã hướng tâm trí của họ sang vấn đề mới này. 

Nhà môi giới chứng khoán người Anh David Ricardo cho rằng thương mại tự do sẽ giải quyết được bất bình đẳng. Vào thời điểm đó, Anh đã có luật cấm ngũ cốc nước ngoài giá rẻ, dẫn đến giá ngũ cốc cao. Ricardo đã chỉ ra rằng, điều này khiến cuộc sống của người lao động càng thêm khó khăn. Trong khi đó, luật pháp càng làm giàu thêm cho các nhà tư bản và chủ đất, những người thu lợi từ ngũ cốc trong nước. Khi Ricardo đề nghị bỏ lệnh cấm ngũ cốc nước ngoài giá rẻ để giúp bình đẳng mọi thứ giữa các tầng lớp, ông đã bị Quốc hội chê cười. Nhưng sau cùng, Ricardo cũng thành công khi vài thập kỷ sau đó, Quốc hội đã đồng ý. 

Ricardo tập trung chủ yếu vào việc giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo giữa công nhân, nhà tư bản và chủ đất. Những người khác lại có quan điểm gay gắt hơn về mối quan hệ giữa người giàu và người nghèo. Một số người nghĩ rằng Ricardo đã không đi đủ xa. Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa đầu tiên, như Charles Fourier và Robert Owen, tin rằng sở hữu chung và chia sẻ là nền tảng của một xã hội hạnh phúc, thay vì có thị trường và cạnh tranh. Những người khác, như Thomas Malthus lại cho rằng mọi người nghèo vì họ lười biếng. Nếu họ được giúp đỡ, sự lười biếng này lại gia tăng do sự ỷ lại. Nếu không có trợ cấp, những người nghèo sẽ có nhiều động lực tự giúp mình hơn. 

Nhưng tư tưởng có sức ảnh hưởng lớn nhất đến từ một người Đức tên là Karl Marx. Marx đã đưa ra lý thuyết vĩ đại của mình về chủ nghĩa tư bản trong một cuốn sách khổng lồ có tên là Das Kapital (Tư Bản). Theo Marx, các nhà tư bản sở hữu tư liệu sản xuất và công nhân chỉ sở hữu sức lao động của chính họ. Do đó, người lao động không có lựa chọn nào khác ngoài việc bị các nhà tư bản bóc lột. Nhưng bên trong chủ nghĩa tư bản cũng có những hạt mầm cho một xã hội mới mang tên Chủ nghĩa cộng sản. 

Dần dần, các chính phủ đã dần nhận thức được thực trạng bóc lột công nhân. Vào đầu thế kỷ XX, một số chính phủ châu Âu bắt đầu trả trợ cấp thất nghiệp và tài trợ cho giáo dục phổ cập. Chẳng bao lâu sau, họ cũng đưa ra luật cấm lao động trẻ em. Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế cũng là một chủ đề chính trong các tư tưởng kinh tế của thế kỷ tiếp theo. 

5. Khi châu Âu còn đang tranh luận về mối quan hệ giữa chính phủ và nền kinh tế, những người giàu ở Mỹ ngày càng trở nên phô trương

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Vào đầu thế kỷ 20, nhà cách mạng Nga Vladimir Lenin đã đưa những ý tưởng của Marx vào thực tiễn. Ông và các nhà kinh tế khác đưa ra giả thuyết rằng chủ nghĩa đế quốc và phương thức đánh chiếm các lãnh thổ nước ngoài để thu lợi, đã kéo dài chủ nghĩa tư bản lâu hơn vòng đời tự nhiên của nó. Khi Lenin lật đổ Sa hoàng Nga vào năm 1917, ông đã thành lập Liên Xô – nhà nước cộng sản đầu tiên trên thế giới. 

Thực tế, Liên Xô đã đề cập đến một vấn đề sẽ là trọng tâm của nền kinh tế thế kỷ XX: vai trò của một chính phủ trong nền kinh tế. Nền kinh tế Liên Xô phải tuân theo một hệ thống được gọi là kế hoạch hóa tập trung. Điều đó có nghĩa là nền kinh tế được chỉ đạo từ chính phủ, chứ không phải thị trường. Ví dụ, ở Liên Xô, ô tô sẽ được sơn màu xanh lam do quyết định của chính phủ cấp cao nhất – chứ không phải do nhu cầu của người tiêu dùng. 

Sau đó, các nhà kinh tế học ngày càng ủng hộ sự việc chính phủ nên có một số can thiệp vào nền kinh tế. Arthur Pigou đã chỉ ra rằng mọi người và các công ty hành động vì lợi ích tối đa của họ, điều này đôi khi dẫn đến những tác dụng phụ không mong muốn, tiêu cực đối với toàn bộ nền kinh tế. Chính phủ nên vào cuộc để quản lý những tác dụng phụ không mong muốn này. 

Tuy nhiên, cũng có những người khác có quan điểm ngược lại về sự tham gia của chính phủ vào nền kinh tế. Ludwig von Mises cho rằng giá cả do chính phủ đặt ra là vô nghĩa. Ông tin rằng thị trường chỉ hoạt động khi mọi người biết tiền đại diện cho điều gì, và sử dụng tiền để nhằm đem về lợi nhuận. Do đó, Mises lập luận, chủ nghĩa tư bản là hệ thống kinh tế hợp lý duy nhất. 

Một lớp người Mỹ mới, những nhà công nghiệp giàu có mới nổi như gia tộc Vanderbilt và Carnegie đã xây dựng được khối tài sản đồ sộ từ lĩnh vực xây dựng và vận tải, và họ thích thể hiện mình giàu có như thế nào. Nhà kinh tế học Thorstein Veblen coi những chiếc cravat lụa và biệt thự bằng đá cẩm thạch của họ là bằng chứng về sự tiêu dùng phô trương, nhằm khoe mẽ rằng họ không phải làm việc để kiếm sống. Veblen lập luận rằng, kiểu tiêu dùng phô trương này sẽ có xu hướng thâm nhập từ từ xuống các tầng lớp thấp hơn, buộc mọi người phải làm việc chăm chỉ hơn để mua những thứ họ cần để giữ thể diện. Nếu cứ tiếp tục như thế này, mọi thứ sẽ đi đến một sự sụp đổ. 

6. Vào giữa thế kỷ XX, những sự kiện chính trị đã truyền cảm hứng cho các nhà kinh tế học phát triển các lý thuyết khuyến khích sự can thiệp của chính phủ

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Khi cuộc Đại suy thoái xảy ra ở Mỹ vào năm 1929, tài sản của nhiều người đã mất đi chỉ sau một đêm và 13 triệu người Mỹ – khoảng 1/4 dân số lao động – rơi vào cảnh thất nghiệp. Các nhà kinh tế học đã phải đối mặt với một câu hỏi mới khẩn cấp: Làm thế nào mà quốc gia giàu nhất thế giới lại có thể rơi vào tình trạng nghèo đói trầm trọng như vậy? 

Nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes, một nhà kinh tế học mà sức ảnh hưởng của ông vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay, tin rằng cuộc Đại suy thoái là kết quả của việc các chính phủ không phản ứng kịp thời với những dấu hiệu sớm của sự suy thoái. Khi cuộc khủng hoảng xảy ra, người dân trở nên lo lắng, họ ngừng chi tiêu và bắt đầu tiết kiệm. Khi các doanh nghiệp làm theo, mọi thứ lại càng tồi tệ hơn. Keynes tin rằng nền kinh tế sẽ không tự đi đúng hướng được, vì vậy chính phủ phải vào cuộc. 

Tuy nhiên, sự kiểm soát quá nhiều của chính phủ đối với nền kinh tế có thể dẫn đến hậu quả tàn khốc. Nhà kinh tế học người Áo Friedrich Hayek đã dự đoán những vấn đề tiềm ẩn khác khi chính phủ can thiệp vào nền kinh tế. 

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hayek đã gây sốc cho nước Anh khi viết rằng người Anh có nhiều điểm chung với Đức Quốc xã. Nền kinh tế Đức Quốc xã được kiểm soát kỹ lưỡng bởi chính phủ. Hayek nói rằng ở Anh cũng vậy, nhiều người Anh nghĩ rằng chính phủ nên kiểm soát nền kinh tế. Hayek cảnh báo rằng sự kiểm soát của chính phủ đối với nền kinh tế sẽ dẫn đến mất quyền tự do cá nhân, cuối cùng dẫn đến chủ nghĩa toàn trị, trong đó chính phủ là toàn quyền và công dân phải tuân theo hoàn toàn – như Đức Quốc xã. 

Sau khi chiến tranh kết thúc, người dân trên toàn thế giới vẫn tiếp tục suy nghĩ về mối quan hệ lý tưởng giữa cá nhân và chính phủ – đặc biệt là những người dân từng bị các nước châu Âu đô hộ. Năm 1957, Ghana trở thành quốc gia thuộc địa đầu tiên ở Châu Phi Hạ Sahara giành được độc lập. Cố vấn kinh tế của Ghana là Arthur Lewis, đã khuyên chính phủ kiểm soát toàn bộ nền kinh tế. Ông cho rằng đây là điều cần thiết để tạo ra một cú hích lớn cho phép Ghana bắt kịp với những nền kinh tế khổng lồ của Mỹ và châu Âu. 

Đáng buồn thay, ở Ghana cũng như các quốc gia châu Phi và châu Mỹ Latinh khác, sự kiểm soát của chính phủ đối với nền kinh tế không quá thành công. Mối liên hệ giữa chính trị và kinh tế ở những đất nước này đã cản trở sự phát triển. Nhưng ở các quốc gia khác, như Hàn Quốc, việc giao nền kinh tế cho chính phủ lại cực kỳ thành công. Các doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát được thành lập trong thời kỳ hậu chiến, như Hyundai và Samsung, ngày nay là những cái tên quen thuộc. 

7. Sau Thế chiến II, các nhà kinh tế chuyển tâm trí sang những vấn đề mới, cả vĩ mô lẫn vi mô

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Chúng ta đã thấy cách Keynes đưa ra ý tưởng mới về vai trò của chính phủ trong kinh tế học – ông tin rằng chính phủ nên chủ trì nền kinh tế, thực hiện các bước để tạo ra sự thay đổi. Kinh tế học nghiên cứu về những điều này được gọi là kinh tế học vĩ mô. Nhưng còn những quyết định nhỏ mà mọi người và các công ty đưa ra hàng ngày, những quyết định đó tạo nên một nền kinh tế thì sao? Bắt đầu từ khoảng Thế chiến thứ hai, các nhà kinh tế học bắt đầu nghiên cứu mọi thứ liên quan đến những quyết định nhỏ này. Đây được gọi là kinh tế học vi mô. 

Nhưng trong Chiến tranh Lạnh, rõ ràng là một quyết định chính trị có thể thay đổi số phận kinh tế của nhiều người. Để giúp những người ra quyết định lựa chọn cách hành động dựa trên các yếu tố chiến lược và dự đoán về hành vi của đối thủ, một nhóm các nhà kinh tế và toán học người Mỹ đã phát triển một lý thuyết gọi là lý thuyết trò chơi. Lý thuyết trò chơi không chỉ giới hạn ở địa chính trị, đối với các cá nhân và doanh nghiệp, lý thuyết trò chơi cũng có tác dụng tương tự. 

Chiến tranh Lạnh không phải là vấn đề hóc búa duy nhất mà các nhà kinh tế phải giải quyết sau Thế chiến II. Vào những năm 1950, nhà kinh tế học Gary Becker bắt đầu sử dụng kinh tế học như một công cụ để mô tả những hiện tượng xã hội như tội phạm, mà ông tin rằng đó là một phân tích chi phí – lợi ích giống như mọi thứ khác. Tội phạm đo lường cái giá phải trả đối với họ – chẳng hạn như phải ngồi tù – so với những lợi ích mà họ có thể được hưởng từ việc phạm tội như sở hữu một chiếc Ferrari mới miễn phí. Becker lập luận rằng cách tốt nhất để giảm bớt tội phạm là làm cho chi phí tiềm ẩn trở nên lớn hơn nhiều so với lợi ích đạt được nếu phạm tội. 

8. Sự phổ biến của kinh tế học Keynes trở nên mờ nhạt và suy yếu trong những thập kỷ sau Thế chiến thứ hai

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Trong những thập kỷ sau Thế chiến thứ hai, những ý tưởng của Keynes về sự tham gia của chính phủ vào nền kinh tế đã được thử nghiệm. Một nhóm các nhà kinh tế trẻ tuổi theo trường phái Keynes, đã phát triển các ứng dụng thực tế của các lý thuyết này. Ý tưởng của họ đã được thực thi, vào những năm 1960, Tổng thống Kennedy đã áp dụng chính sách cắt giảm thuế của Keynes, với mục tiêu khởi động nền kinh tế bằng cách đưa nhiều tiền hơn vào tay người tiêu dùng. 

Chính sách này đã thành công và trong một thời gian, mọi người đều bị thuyết phục – kể cả đảng Cộng hòa, vốn có truyền thống hoài nghi về sự can thiệp của chính phủ. Nhưng đến cuối những năm 70, các nhà kinh tế học bắt đầu tự hỏi liệu chi tiêu của chính phủ quá nhiều có gây ra sự gia tăng lạm phát hay không. Có lẽ kết quả kinh tế tốt trong những năm 1960 hoàn toàn không phải là do các chính sách của Keynes. 

Chủ nghĩa hoài nghi về các ý tưởng của Keynes đã phát triển khi cuộc suy thoái kinh tế lan rộng vào những năm 1970. Năm 1978, các cuộc đình công phản đối thất nghiệp và lạm phát lan rộng khắp nước Anh. Nhiều nhà kinh tế học đổ lỗi cho các chính sách của Keynes về những thảm họa kinh tế này. Milton Friedman là người nổi bật nhất trong số này. Friedman cho rằng, việc chính phủ thúc đẩy chi tiêu có thể hiệu quả một chút. Nhưng sau đó, nền kinh tế chắc chắn sẽ quay trở lại mức thất nghiệp ban đầu. Và với nhiều tiền hơn trong lưu thông, lạm phát cũng cao hơn. 

Friedman lập luận rằng thị trường, chứ không phải chính phủ, sẽ dẫn dắt xã hội. Các chính phủ không thể dự đoán điều gì sẽ xảy ra trên thị trường, vì vậy họ nên cam kết về tốc độ tăng cung tiền cố định, theo đó, chính phủ nên tăng cung tiền với một tốc độ phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. 

Friedman cũng ủng hộ các chính phủ tăng cường tạo ra những điều kiện kinh doanh, cho phép các doanh nghiệp sản xuất nhiều hơn – đồng nghĩa với nguồn cung của nền kinh tế cũng tăng – thay vì cung cấp nhiều tiền mặt hơn cho người tiêu dùng và làm tăng nhu cầu. Đây được gọi là kinh tế học trọng cung. 

Margaret Thatcher và Ronald Reagan đã thông qua các chính sách của Friedman. Nhưng nhiều nhà kinh tế đã đổ lỗi cho sự kiểm soát chặt chẽ của họ đối với nguồn cung tiền đã làm cho suy thoái kinh tế của những năm 1970 trở nên tồi tệ hơn. 

Một câu hỏi khác nữa được đặt ra là, liệu các chính phủ có nên được tin tưởng để thực hiện các chính sách kinh tế hay không. Nhà kinh tế học người Mỹ James Buchanan cho rằng chính phủ chỉ là một nhóm người có động cơ ích kỷ giống như những người khác. Ông tin rằng các chính trị gia được thúc đẩy bởi mong muốn nắm quyền, giống như các doanh nghiệp được thúc đẩy bởi triển vọng kiếm tiền. Nếu chi tiêu của chính phủ được lòng của số đông, các chính trị gia sẽ làm điều đó bất kể nó có tốt cho nền kinh tế hay không. 

9. Vào cuối thế kỷ XX, những hành vi tài chính rủi ro đã dẫn đến tổn thất thảm khốc

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Trước những năm 1980, các nhân viên ngân hàng là những người trông có vẻ nặng nề, điển hình là những người đàn ông ngột ngạt trong bộ vest bằng vải tuýt. Tuy nhiên, vào những năm 1980, một kiểu nhân viên mới đã xuất hiện: những nhân viên ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, kiêu căng, ngang tàng, trơ trẽn với việc chấp nhận rủi ro cao Họ tham gia vào việc đầu cơ, đưa ra các phỏng đoán về giá của một loại hàng hóa như lúa mì hoặc dầu trong tương lai, sau đó mua rất nhiều hàng hóa dựa trên phỏng đoán đó. Khi dự đoán của họ đúng, họ sẽ bán hàng hóa đó để kiếm lời. Hàng hóa được đầu cơ cũng có thể là tiền tệ. Các nhà đầu cơ tiền tệ như George Soros đã kiếm tiền bằng cách đoán xem tiền tệ của một quốc gia sẽ tăng giá như thế nào trong vài tuần hoặc vài tháng. Vào năm 1992, Soros đã kiếm được 1 tỷ bảng Anh sau khi hành vi đầu cơ của ông khiến cho Ngân hàng Anh phải lao đao. 

Các hoạt động sinh lợi cao của những tay đầu cơ này ngày càng trở nên hấp dẫn đối với những người giao dịch cổ phiếu non kinh nghiệm. Nhưng đã có những hậu quả nghiêm trọng đối với hành vi rủi ro của họ. 

Trong những năm 1990, các công ty mới với những sản phẩm mới đầy hấp dẫn như trình duyệt web và công cụ tìm kiếm đã tham gia vào thị trường chứng khoán. Mọi người đổ xô mua cổ phiếu của các công ty này, và khi giá cổ phiếu tăng, bạn bè và hàng xóm của họ cũng muốn tham gia vào. Chính sự kích động về khả năng làm giàu của mọi người đã khiến giá cổ phiếu của các công ty này nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát. Khi bong bóng vỡ, 2 nghìn tỷ đô la đã biến mất. Nhiều người đánh mất tất cả và các công ty ngừng kinh doanh. Nhưng không lâu sau đó, một bong bóng tiếp theo lại được hình thành. Lần này, sản phẩm là nhà ở. 

Khi bong bóng thị trường nhà đất Mỹ vỡ vào năm 2007, nền kinh tế toàn cầu sụp đổ. Chi tiết về những gì đã xảy ra có thể được giải thích bởi một nhà kinh tế học ít tên tuổi Hyman Minsky. Minsky tin rằng khi chủ nghĩa tư bản phát triển, nó sẽ trở nên không ổn định. Người dân và ngân hàng trở nên táo bạo hơn, việc vay và cho vay ngày càng liều lĩnh để tối đa hóa lợi nhuận. Khi nền kinh tế phát triển vượt bậc, các ngân hàng cược rằng giá nhà sẽ tiếp tục tăng và bắt đầu cho những người có khả năng trả nợ thấp vay tiền. Khi mọi người ngừng trả các khoản vay, sau đó rao bán nhà, giá nhà liền sụt giảm. Các khoản đầu tư ngừng lại, và nền kinh tế bắt đầu suy thoái. Đây là những gì đã xảy ra vào năm 2007. 

Để đối phó với cuộc khủng hoảng, các nền kinh tế khổng lồ trên thế giới, bao gồm cả Mỹ và Trung Quốc, đã áp dụng các chính sách thể hiện sự quay trở lại của tư duy Keynes. Các quốc gia này đã tăng chi tiêu để vực dậy nền kinh tế. Các yếu tố của các chính sách này vẫn được áp dụng cho đến ngày nay. 

10. Bất bình đẳng vẫn là chủ đề cấp bách nhất đối với các nhà kinh tế học hiện đại

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review
Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Khi còn là một cậu bé, nhà kinh tế học người Ấn Độ Amartya Sen đã chứng kiến cảnh bạo lực kinh hoàng giữa những người theo đạo Hindu và những người theo đạo Hồi ở Bangladesh. Điều này khiến ông theo đuổi lời giải đáp về những lý do đằng sau sự bất bình đẳng. Sen tin rằng sự nghèo đói không chỉ là một khái niệm để chỉ sự thiếu thốn của cải vật chất. Nghèo đói còn là khái niệm để chỉ việc thiếu các điều kiện để mở ra khả năng thăng tiến – chẳng hạn như thiếu phương tiện đi lại hoặc giáo dục. Theo Sen, xã hội phát triển nhằm mục đích mở rộng khả năng của mọi người hơn là để phát triển kinh tế. 

Sen đã giúp Liên hợp quốc xây dựng Chỉ số Phát triển Con người (HDI), chỉ số này đo lường thu nhập cùng với các yếu tố khác như tuổi thọ và khả năng biết đọc biết viết. Đối với Sen, kinh tế học là lĩnh vực tìm hiểu về những thứ khác nhau mà con người cần để có một cuộc sống hạnh phúc – không chỉ là tiền. 

Amartya Sen cũng quan tâm đến sự bất bình đẳng giữa các giới tính. Ông nhận thấy rằng các nhà kinh tế học đều có thiên kiến trong cách họ nghĩ về thế giới. Vì hầu hết họ đều là những người đàn ông có xuất thân tương tự, nên điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. 

Vào những năm 1990, một nhóm các nhà kinh tế học nữ quyền đã đề cập đến những cách mà kinh tế học nhìn thế giới qua quan điểm của nam giới. Các công việc không được trả tiền – như đi chợ, nấu ăn, dọn dẹp, chăm sóc con cái, cày xới đất – phần lớn là do phụ nữ làm. Vì phần lớn những công việc không được trả công của phụ nữ không được tính đến trong các câu chuyện kinh tế truyền thống, nên phụ nữ gặp bất lợi khi phân bổ các nguồn lực như tiền lương, thực phẩm và thuốc men. Các nhà kinh tế học nữ quyền tin rằng thay đổi xã hội và chính sách tốt có thể giúp giảm bớt những vấn đề này. Nhưng nếu không có các chính sách nhằm giảm bớt sự khác biệt giữa nam và nữ, thì sự chênh lệch này sẽ chỉ trở nên tồi tệ hơn. 

Nghèo đói, sự khác biệt giữa nam và nữ chưa phải là tất cả về bất bình đẳng toàn cầu. Những người giàu có đang trở nên giàu có hơn bao giờ hết, thu nhập của họ tăng lên theo cấp số nhân, thậm chí với tốc độ còn nhanh hơn cả tầng lớp trung lưu. Nhà kinh tế học người Pháp Thomas Piketty đã có lời giải thích cho điều này. Ông lập luận rằng quy luật lịch sử của chủ nghĩa tư bản đã cho phép những người vốn đã giàu có kiếm tiền từ tài sản hiện có của họ. 

Nhưng làm thế nào để ngăn chặn nó? Các nhà kinh tế học đã đề xuất mức lương tối thiểu cao hơn và tăng thuế đánh vào tài sản. Nhưng những chính phủ dường như không quan tâm đến việc khắc phục tình hình này. Trên thực tế, từ những năm 1970, các chính phủ đã cắt giảm thuế đối với những người giàu có. Với quyền lực và tầm ảnh hưởng của những người này, việc phân phối lại thu nhập trong những thập kỷ tới khó có thể xảy ra. Những nhà kinh tế học ngày nay và những nhà kinh tế học của tương lai sẽ phải nghĩ ra những cách mới, sáng tạo hơn để cải thiện xã hội. 

Tổng kết Thông điệp chính từ quyển sách Lược Sử Kinh Tế Học

Sách Lược Sử Kinh Tế Học PDF & Review

Kinh tế học nghe có vẻ giống một trường phái tư tưởng cao siêu, không thể hiểu thấu, nhưng thực ra nó liên quan đến các vấn đề của con người thực tế. Cũng giống như tiền là công cụ bạn sử dụng – để đổi lấy sức lao động của bạn và cho những thứ bạn cần – kinh tế học là công cụ để hiểu sự khác biệt giữa các cá nhân, các nhóm, các giai cấp và các quốc gia. Nó cũng là một công cụ để hiểu về cách giảm bất bình đẳng cho tất cả mọi người. 

Bạn nên đọc thêm quyển sách: Lược sử triết học, của tác giả Nigel Warburton 

Bạn vừa thực hiện một chuyến hành trình tham quan về lịch sử kinh tế, hiểu được kinh tế học đã đóng vai trò như thế nào trong mọi khía cạnh của lịch sử, từ những vấn đề vĩ mô cho đến các vấn đề vi mô. Trong cuốn sách Lược sử triết học, bạn sẽ có một hành trình tương tự trong lĩnh vực triết học. Bắt đầu với những câu hỏi đặc biệt mà Socrates đặt ra về bản chất của thực tại, tự do và sự lựa chọn, bạn sẽ khám phá các chủ đề trọng tâm của triết học phương Tây qua nhiều thế kỷ, kết thúc bằng những câu hỏi nhức nhối mà qua đó chúng ta có thể chiêm nghiệm thời đại của chính mình. 

Lời kết

Hy vọng những chia sẻ của Trạm trong bài review sách Lược Sử Kinh Tế Học sẽ giúp bạn đọc hiểu được các giá trị của tác phẩm và nắm được nội dung cốt lõi của nó.

Hẹn gặp lại!

Cám ơn bạn đã đọc tóm tắt sách Lược Sử Kinh Tế Học của tác giả Niall Kishtainy tại Trạm Sách. Nếu có điều kiện hãy mua và đọc cả cuốn sách để ủng hộ tác giả, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn rất nhiều.

ĐỪNG
BỎ LỠ